Thái Nguyên phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050: Mở rộng không gian phát triển, kiến tạo động lực tăng trưởng mới
Với nhiều nội dung quan trọng, mang tính chiến lược dài hạn nhằm cụ thể hóa định hướng phát triển trong giai đoạn mới, tạo nền tảng để Thái Nguyên bứt phá, trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại và phát triển bền vững của vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 09/02/2026 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 chính là bước đi quan trọng.
Theo nội dung điều chỉnh, phạm vi quy hoạch bao trùm toàn bộ địa giới tỉnh với diện tích tự nhiên 8.374,53 km² và 92 đơn vị hành chính cấp xã, tiếp giáp các tỉnh, thành phố: Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh và Lạng Sơn. Quy hoạch điều chỉnh tiếp tục bám sát định hướng của Trung ương, đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Tỉnh xác định rõ quan điểm phát triển nhanh, bền vững, dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
Mục tiêu đến năm 2030: Trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại
Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; phấn đấu trở thành tỉnh có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 và tiến tới tỉnh phát triển có thu nhập cao trước năm 2045.
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021 – 2030 đạt bình quân 8,5 – 9%, riêng giai đoạn 2026 – 2030 đạt từ 10,5%/năm trở lên. GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 220 triệu đồng. Đặc biệt, kinh tế số được xác định là động lực quan trọng với tỷ trọng giá trị tăng thêm đạt khoảng 35% GRDP vào giai đoạn 2026 – 2030. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp – dịch vụ, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 54,6%; dịch vụ chiếm 36,5%; nông, lâm nghiệp, thủy sản còn 8,9%. Giá trị xuất khẩu tăng bình quân 10%/năm; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng khoảng 12,5%/năm.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh đặt mục tiêu phát triển theo hướng công nghệ cao, sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn. Riêng cây chè – sản phẩm đặc trưng của địa phương – phấn đấu đạt tổng giá trị 25.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Phát triển hài hòa văn hóa – xã hội, nâng cao chất lượng sống
Quy hoạch điều chỉnh nhấn mạnh phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội. Đến năm 2030, tuổi thọ trung bình đạt từ 75,5 tuổi trở lên; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt từ 0,79 trở lên.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 75%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt từ 38% trở lên. Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 8 triệu đồng/tháng; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 1,5%/năm.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; có từ 19 bác sĩ và 50 giường bệnh trên một vạn dân; 82% trường học đạt chuẩn quốc gia; 95% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hoàn thành 60.000 căn nhà ở xã hội vào năm 2030.
Ba vùng phát triển, năm hành lang kinh tế chiến lược
Không gian phát triển được tổ chức thành 03 vùng kinh tế:
- Vùng phía Bắc: Trọng tâm bảo tồn thiên nhiên, phát triển kinh tế xanh, du lịch sinh thái, lâm nghiệp bền vững.
- Vùng giao thoa: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, đô thị vệ tinh.
- Vùng phía Nam: Trung tâm công nghiệp, đô thị, giáo dục, y tế và dịch vụ chất lượng cao; là động lực tăng trưởng chính của tỉnh.
Song song đó, tỉnh hình thành 05 hành lang kinh tế quan trọng, nổi bật là hành lang cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng; hành lang cao tốc Tuyên Quang – Thái Nguyên – Lạng Sơn; hành lang gắn với Vành đai 5 kết nối các tỉnh trong vùng Thủ đô.
Hệ thống giao thông được điều chỉnh, bổ sung nhiều tuyến cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh; quy hoạch mới các tuyến đường liên kết vùng, cảng cạn logistics, trạm dừng nghỉ, đường sắt đô thị kết nối với Thủ đô Hà Nội trong tương lai.
Mở rộng khu công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ
Một trong những nội dung đáng chú ý là điều chỉnh phương án phát triển khu công nghiệp từ 20 lên 38 khu, với tổng diện tích 14.155,18 ha. Tỉnh bổ sung 20 khu công nghiệp mới tại khu vực phía Nam nhằm đón đầu làn sóng đầu tư, nhất là các ngành điện tử, bán dẫn, công nghiệp phụ trợ, chế biến sâu.
Số lượng cụm công nghiệp cũng được điều chỉnh từ 68 lên 74 cụm với tổng diện tích hơn 4.000 ha.
Cùng với đó, hệ thống đô thị được quy hoạch gồm 14 đô thị, trong đó có 03 đô thị loại II và 11 đô thị loại III, hướng tới mục tiêu xây dựng Thái Nguyên trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào tầm nhìn 2050 – xanh, thông minh và giàu bản sắc văn hóa.
Quy hoạch bổ sung nhiều dự án điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác; nâng cấp hệ thống trạm biến áp và đường dây truyền tải. Đồng thời, điều chỉnh phương án thủy lợi, đê điều, xây dựng các hồ chứa cắt lũ, nâng cấp đê sông Cầu, sông Công, tăng cường khả năng phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu.
Tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 60%; 100% chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý; 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường.
Tầm nhìn 2050: Trung tâm công nghiệp công nghệ cao của cả nước
Với tầm nhìn đến năm 2050, Thái Nguyên định hướng trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu, đào tạo và y tế chất lượng cao của cả nước; là nơi đáng sống, đáng đến, an toàn và thịnh vượng. Việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh lần này không chỉ mang ý nghĩa cập nhật các yếu tố phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính và thay đổi bối cảnh kinh tế – xã hội, mà còn tạo nền tảng pháp lý quan trọng để thu hút đầu tư, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, khơi thông các nguồn lực phát triển.
Với quyết tâm chính trị cao, định hướng chiến lược rõ ràng và các khâu đột phá được xác định cụ thể, Thái Nguyên đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng quan trọng của vùng và cả nước trong giai đoạn mới.